Bài trí bàn thờ

Tùy theo vùng miền mà có sự khác nhau đôi chút về hình thức của cách bài trí bàn thờ, nhưng cả ở 3 miền, bàn thờ đều được đặt ở vị trí trung tâm, nơi trang trọng nhất trong mỗi gia đình: ở miền Bắc, bàn thờ thường là một giá gỗ được gắn nơi bức tường trung tâm của ngôi nhà chính, ở tầm cao trên tay với của người lớn, mỗi lần hương khói người ta phải đặt ghế để đứng lên trong tư thế thành kính; đối với miền Trung và miền Nam, chiếc tủ thờ thường bằng gỗ, cao gần tầm đầu người lớn, được chế tác công phu.

Ngày đăng: 15-10-2014

2,622 lượt xem

Bài trí bàn thờ,

   Bàn thờ gia tiên là bàn thờ chính trong mỗi gia đình Việt Nam, người ta còn có sự phân biệt giữa bàn thờ họ và bàn thờ trong từng gia đình. Dù có sự khác nhau đôi chút về hình thức, nhưng cả ở 3 miền, bàn thờ đều được đặt ở vị trí trung tâm, nơi trang trọng nhất trong mỗi gia đình. Ở miền Bắc, bàn thờ thường là một giá gỗ được gắn nơi bức tường trung tâm của ngôi nhà chính, ở tầm cao trên tay với của người lớn, mỗi lần hương khói người ta phải đặt ghế để đứng lên trong tư thế thành kính. Đối với miền Trung và miền Nam, chiếc tủ thờ thường bằng gỗ, cao gần tầm đầu người lớn, được chế tác công phu. Chiếc tủ thờ vẫn là vật đẹp nhất trong nhà, thể hiện lòng thành kính, hiếu thảo của người đang sống với tổ tiên.

   Trong việc thờ cúng tổ tiên có hai ngày quan trọng nhất, đó là ngày giỗ và ngày Tết. Ngày giỗ cúng đúng vào ngày mất (theo ngày âm lịch) của người được thờ tự. Đây là dịp để con cháu tưởng nhớ, bày tỏ lòng hiếu thảo với tổ tiên. Ở miền Nam, buổi chiều hôm trước ngày chính kỵ còn có mâm cúng tiên thường để con cháu thắp hương vọng bái trước ông bà.

   Ngày tết cổ truyền của dân tộc, ngoài ý nghĩa đưa năm cũ, đón năm mới, còn là dịp để mọi người ôn cố, tri tân và việc cúng kiến ông bà là nghi lễ hàng đầu. Không khí Tết đến với ngôi nhà Việt bắt đầu từ việc trang hoàng bàn thờ ông bà. Những vật dụng thờ cúng được lau chùi đánh bóng, bên cạnh đó khác với ngày thường là có thêm lọ độc bình ( hoặc song bình ) cắm hoa tươi, một cành đào ở Bắc, một cành mai phổ biến ở Trung và Nam. Ngoài ra, cả hai miền đều có mâm ngũ quả. Ở miền Bắc thường thấy có 5 loại quả có 5 màu khác nhau như: chuối xanh, bưởi vàng, hồng đỏ, lê trắng, quýt da cam tượng trưng cho mong ước: phú (giàu có) – quý (sang trọng) – thọ (sống lâu) – khang (khỏe mạnh) – ninh (bình yên). Miền Nam, mâm ngũ quả thường thấy các loại trái mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung. Mâm ngũ quả có ý nghĩa nói lên lòng mong ước của người dâng cúng để ông bà được tỏ tường mà phù hộ. Trên bàn thờ ngày Tết ở miền Nam còn trưng cặp dưa hấu, loại dưa tròn, lớn, trái có dán chữ ‘thọ’ (bằng Hán tự) viết bằng nhũ vàng trên giấy đỏ, nói lên mong ước cho ông bà cha mẹ còn đang sống được trường thọ, hay chữ ‘phúc’ để cầu phúc cho gia đình dòng họ.

   Mâm cúng ngày giỗ hay ngày Tết, cả ngoài Bắc cũng như trong Nam đều không được đặt trực tiếp lên bàn thờ mà phải đặt trên chiếc bàn thấp hơn kê trước bàn thờ. Trước khi người chủ trì thờ tự cùng con cháu dâng hương, thường thấy ngoài Bắc còn đặt lên bàn thờ ba ly nước, trong Nam là 2 ly rượu, một ly nước, có ý nghĩa tượng trưng cho sự tranh khiết của trời đất và tinh hoa của mùa màng. Cũng có một chút khác nhau giữa hai miền là ngoài Bắc: người thờ tự tổ tiên là con trai trưởng, còn miền Nam là con trai út.

   Bàn thờ là nơi linh thiêng, thanh khiết, nên ngoài các đồ đạc dùng để tế tự và trang hoàng, nhất thiết không được để vật dụng gì lên đó. Trung tâm của bàn thờ là bát nhang, phía sau bát nhang là di ảnh của những người đã khuất. Nếu là những gia đình khá giả, trước di ảnh còn có đỉnh đồng để đốt trầm vào mỗi dịp cúng kiến, đỉnh đồng thường được chạm khắc Long, Lân, Mai, Trúc. Hai bên bát nhang phía trước là đôi chân đèn để thắp nến, có ý nghĩa tượng trưng cho đôi vầng nhật nguyệt, cũng để nói lên người đã chết nhưng linh hồn của họ thì không bao giờ tắt, ở miền Bắc đôi khi thấy ở vị trí đôi chân đèn là hai ngọn đèn dầu. Tường sau bàn thờ là hoành phi, liễn đối xứng bằng Hán tự sơn son thiếp vàng, có nội dung nói lên công đức của những người đã khuất. Ở gia đình bình dân, đó là tranh thờ, thường là trang dân gian vẽ ngũ quả, chiếc cuốn thư, cá chép vượt vũ môn hay các chữ như Phúc, Lộc, Thọ ( đều bằng Hán tự ). Miền Nam còn thấy phổ biến loại tranh thờ vẽ trên kiếng với những phong cảnh thanh bình.

   Hoành phi:

   Thường được thiết kế treo ở trên cao trong cùng, hoành phi thường được sơn son thếp vàng hay chữ khảm xà cừ. Có nhiều gia đình cầu kỳ làm bức hoành phi theo hình thức cuốn thư rất đẹp. Ý nghĩa của đại tự viết trên hoành phi thường mang nội dung ca tụng công đức của tổ tiên hoặc tỏ lòng kính trọng của con cháu đối với tổ tiên như: Kính như tai - có nghĩa là con cháu kính trọng tổ tiên, như tổ tiên luôn tại vị trên bàn thờ luôn luôn ở trong nhà bên cạnh cùng con cháu; hay Phúc mãn đường - có nghĩa là những người trong nhà luôn luôn được đầy đủ phúc đức.

   Bên cạnh đó trên bức hoành phi còn có ghi niên hiệu năm làm, vào mùa, tháng nào. Nếu là bức hoành phi do một người con cháu nào đó cúng thì có ghi tên tuổi người đó. Hoành phi có ghi tên người cúng phần lớn là hoành phi treo tại các nhà thờ tổ họ hay trưởng chi họ.

   Y môn : Thường là bức màn vải đỏ, được thiết kế dùng làm bức màn ngăn cách lớp bàn thờ bên ngoài với lớp bàn thờ bên trong. Ỷ môn gồm hai cảnh, xung quanh có thêu, được thiết kế treo thõng xuống che kín lớp bàn trong. Y môn có thể làm bằng nhiễu, the hoặc vải mầu đỏ. Trên cùng Y môn có một dải lụa hoặc nhung the mầu băng ngang. Trên lớp băng ngang thường được thêu hoặc dán chữ đại tự.

    Khám thờ : Ngày nay phần lớn không lập bàn thờ nữa, tất cả Ngai thờ và Khám thờ được thiết kế thay thế bằng Tủ thờ, tủ thờ thường có chiều cao ngang mặt đặt sát vách phía trên bầy biện đồ thờ tự, phía dưới được thiết kế là một khoang tủ trong đó chứa các vặt dụng liên quan đến thờ cúng rất tiện dụng. Nếu là nhà trệt ít phòng thì đặt tủ thờ ngay phòng khách đối diện với cửa ra vào, nếu có phòng thờ riêng thì bố trí cạnh phòng khách, đối diện với tủ thờ phải có cửa sổ để lấy dương khí. Còn với nhà lầu thì đặt trên tầng cao nhất. đối diện cũng phải có cửa sổ. Trên tủ thờ bầy bộ Ngũ sự hoặc Thất sự, sát vách đặt một ngai cao có bài vị Cửu Huyền Thất Tổ, hai bên ngai đặt di ảnh của người thân.

    - Khám thờ có cửa mở ra đóng vào bên trong đặt các linh vị tổ tiên, ngay chính giữa khám thờ viết hai chữ Thần Chủ. Ngày xưa khi lập bàn thờ Gia Tiên, gia chủ chuẩn bị mọi thứ như trên và viết chữ Thần Chủ nhưng chữ Chủ lại thiếu mất một nét chấm, sau đó mời một vị quan có uy tín đến dung son điền thêm một nét chấm đó thì chữ Chủ mới đủ, lễ này gọi là lễ KHAI HOA ĐIỂM NHÃN.

    - Ngũ sự bao gồm bát hương để ở giữa, hai chân đèn được thiết kế đặt hai bên, phía sau là lọ độc bình để cắm hoa được đặt vị trí sau chân đèn bên trái, khay quả đặt sau chân đèn bên phải.

    - Thất sự là bao gồm các món đồ Ngũ sự cộng thêm đỉnh hương và đèn thái cực, cách bố trí có khác chút là đỉnh hương nằm giữa ngang chân đèn, bát hương đặt trước đỉnh hương và đèn thái cực đặt sau đỉnh hương.

   Bàn thờ : Thông thường người ta chia bàn thờ làm ba lớp. Lớp ngoài là bộ phận phản để mọi người đến làm lễ, không đặt phản thì để trống nền nhà, khi cần thì có thể thiết kế bầy thên bàn ghế, hay trải chiếu. Lớp thứ hai là hương án, trên đặt bộ tam sự hay ngũ sự, Lớp thứ ba trong cùng mới thực sự là bàn thờ người đã khuất, trên để khám sơn son, bài vị, hộp hay ống đựng gia phả, khay đựng vật cúng, đài rượu và có thể có ảnh chân dung người quá cố.

   Bát hương làm bằng nhiều chất liệu khác nhau nhưng tốt nhất vẫn là làm bằng kim lại: đồng, vàng, bạc. Khi bốc bát hương mới phải hết sức cẩn thận, nhất tâm nhất niệm, trong lòng thư thái, không được có những ý nghĩ vẩn đục. Trong bát hương có cát trắng khô sạch, vàng bạc, đá ngũ sắc, ghi rõ tổ họ. Vào ngày 23 tháng chạp sau khi đưa ông Táo thì gỡ các chân hương đem ra sân đốt thả ra sông, sau đó dọn dẹp vệ sinh lại tủ thờ, nhớ không được mang nước ra rửa, vì bàn thờ mệnh Hỏa, Hỏa khắc Thủy, đến trưa ngày 30 tháng chạp mới cúng rước ông bà và bắt đầu cắm hương lại. Điều cần lưu tâm là nếu bầy biện Thất sự thì ngọn đèn Thái cực phải luôn để sáng, không để tắt và đừng bao giờ lấy chân hương để xỉa răng, ngoáy tai như thế sẽ có tội với tổ tiên. Khi bát hương tự hóa cũng đừng vội vàng đổ nước vào, mà phải từ từ chuyển những vật dụng dễ cháy ra, lấy một tấm gỗ dầy che ở trên, cho lửa khỏi làm bẩn trần nhà. Khi bát hương cháy hết thì chuyển về vị trí như cũ. Bát hương cháy có hai loại : hóa dương ( tốc độ cháy nhanh ). Hóa âm ( cháy từ từ ) tùy theo mức độ cháy để dự báo cát hung. Nếu bát hương cháy bị hỏng, cháy lan ra bàn thờ thì tùy theo tình hình kinh tế của gia chủ mà thay bàn thờ và bát hương mới.

   Những người đi đâu xa hoặc công tác về đều thắp hương để thông báo cho tổ tiên biết, đó cũng là nét hiếu thuận trong nếp sống cửa người Việt. 

    Câu đối : Ở hai cột phía trước bàn thờ hoặc trên tường nhà có treo mỗi bên một câu đối. Nhà khá giả thường viết câu đối sơn son thếp vàng hay sơn đen khảm xà cừ. Còn nhà bình dân thường viết câu đối trên giấy hồng. Nhìn chung thì các bức hoành phi hay câu đối đều được viết bằng chữ Hán. Nhưng có gia đình viết cả câu đối và hoành phi bằng chữ Nôm. Cũng như hoành phi, nội dung câu đối thường ca tụng công đức của tổ tiên,
“ Tổ tông công đức thiên nhiên thịnh
Tử hiếu tôn hiền vạn đại vinh.”
Có nghĩa là :
"Công đức tổ tiên nghìn năm thịnh
Hiếu hiền con cháu vạn đời ngay."
 

Xem thêm tại đây

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha reload